-
Những lễ lên ngôi của các Giáo hoàng luôn là sự kiện mang ý nghĩa lịch sử, thu hút sự chú ý của hàng tỷ giáo dân trên toàn thế giới.
Giáo hoàng John XXIII (28/10/1958 đến 3/6/1963)
Sau khi Giáo hoàng Pius XII qua đời, Hồng y Angelo Roncalli bất ngờ trở thành vị giáo hoàng thứ 261 của Giáo hội Công giáo ở tuổi 77. Trước mật nghị hồng y, mọi người đều để ý tới tên tuổi của vị Tổng giám mục Giovanni Battista Montini thuộc thành Milan.Giáo hoàng mới chọn hiệu là John, và đây là lần đầu tiên trong suốt 500 năm hiệu này được chọn. Trong thời gian tại vị, ông đã triệu tập Hội đồng Vatican lần hai để cải tổ Giáo hội nhưng qua đời trước khi hội đồng bế mạc.Giáo hoàng Paul VI (21/6/1963 đến 6/8/1978)Kế nhiệm John XXIII, Giáo hoàng Paul VI tiếp tục Hội đồng Vatican lần hai và cải thiện quan hệ của Công giáo với Chính thống giáo và Tin lành, dẫn đến nhiều cuộc họp và thỏa thuận lịch sử. Ông là Giáo hoàng cuối cùng được trao mũ miện và là Giáo hoàng đầu tiên đến Mỹ.Giáo hoàng John Paul I (26/8/1978 đến ngày 28/9/1978)
John Paul I là Giáo hoàng đầu tiên sử dụng từ Đệ nhất trong hiệu. Ông cũng là Giáo hoàng đầu tiên sử dụng tên hiệu là tên hai vị thánh John và Paul. Ông qua đời chỉ 33 ngày sau khi tại vị, và triều đại của ông là một trong những giáo triều ngắn nhất lịch sử Giáo hội Công giáo.Giáo hoàng John Paul II (16/8/1978 đến ngày 2/4/2005)
John Paul II là Giáo hoàng duy nhất người Ba Lan, cũng là Giáo hoàng không phải là người Italy đầu tiên trong vòng 455 năm. Triều đại của ông kéo dài 26 năm, thuộc loại dài nhất lịch sử Công giáo. Từng tới 129 quốc gia, ông được tạp chíTime bình chọn là một trong 4 người có ảnh hưởng lớn nhất thể kỷ 20.Giáo hoàng Benedict XVI (19/4/2005 đến ngày 28/2/2013)
Benedict XVI là giáo hoàng đầu tiên thoái vị trong gần 600 năm của lịch sử Giáo hội Công giáo. Ông được giữ danh hiệu Giáo hoàng danh dự.Giáo hoàng Phancis (19/3/2013)
200.000 tín hữu cùng với đại diện chính quyền 132 quốc gia cũng như nhiều phái đoàn các Giáo hội Kitô và liên tôn đã tham dự Thánh lễ Khai mạc Sứ vụ Phêrô của ĐTC Phanxicô từ lúc 9:30 sáng ngày 19-3-2013 tại Quảng trường Thánh Phêrô.Dưới bầu trời thiên thanh của kinh thành Roma, Đức Phanxicô đã nhận dây pallium và nhẫn giáo hoàng, mở đầu một trang sử mới của Giáo hội gần gũi với các tín đồ.Trong lễ nhận sứ vụ Phêrô ngày hôm nay của ĐTC Phanxicô, chúng ta được nhắc nhớ về ý nghĩa của dây pallium là "dấu tích xưa mà các giám mục Roma đã mang từ thế kỷ IV, biếu tượng cái ách của Chúa Kitô. Không những chúng ta phục vụ Đức Kitô mà còn thực hiện cứu rỗi cho toàn nhân loại.’’
Đức Phanxicô đứng trên xe hơi mui trần, đi qua quảng trường thánh Phêrô, dưới nắng xuân chan hòa, biểu tượng của an bình Thánh mẫu.
Đức Phanxicô xuống xe hôn và ban bình an cho một một tín hữu dị tật.
Trong bài giảng, Đức Phanxicô nhắc nhở nghĩa vụ bênh vực những người yếu đuối, bảo vệ môi sinh. Ngài cổ võ thế giới loại bỏ các dấu hiệu hủy diệt, chết chóc. Đức Phanxicô mời gọi tôn trọng mọi loài thụ tạo của Thiên Chúa cũng như môi trường sinh sống, bảo vệ loài người, chăm sóc thương yêu mỗi người, nhất là các trẻ em, những người già yếu thường ở ngoài sự đùm bọc thương yêu.’’
Đứng trên chiếc xe mui trần, Đức Phanxicô tươi cười, chào các tín hữu hoan hô vị tân giáo chủ, với nhiều lá cờ các nước tung bay. Đức Ông Mai Đức Vinh, giám đốc Giáo xứ Paris cho rằng lễ lãnh nhận sứ vụ Phêrô của Đức Phanxicô sẽ mở đầu một kỷ nguyên mới cho Giáo hội.
Một nữ tu người Việt cầu mong có một thánh Phanxicô tái sinh giữa trần gian, với lòng thương yêu, nhân hậu; với đức khó nghèo và khiêm nhường.
Trong thánh lễ sáng nay có hơn 130 phái đoàn chính thức, nhiều vị nguyên thủ quốc gia và thủ tướng chính phủ, nhiều vị lãnh đạo tôn giáo đến từ khắp nơi trên thế giới, trong số có phó tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, thủ tướng Đức bà Angela Merkel, thủ tướng Pháp Jean-Marc Ayrault. Bà Cristina Kirchner, tổng thống A Căn Đình, quê hương của Đức Phanxicô, cũng có mặt trong số các phái đoàn nước ngoài. Theo bản tin sáng nay của Hội Thừa sai Paris, tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu có trong số các vị nguyên thủ quốc gia dự thánh lễ.
Linh mục Adolfo Nicolas, bề trên tổng quyền dòng Tên và linh mục Marco Tasca, bề trên tổng quyền dòng Phanxicô đã đồng tế trong thánh lễ lịch sử này.Trọng Giáp
(nguyenthuong) Tổng hợp -
Trước thềm Năm mới Quý Tỵ, WHĐ điểm lại một số sự kiện của lịch sử Giáo hội tại Việt Nam diễn ra trong các năm Tỵ, từ những ngày đầu tiên Tin Mừng được loan báo trên quê hương Việt Nam. Đặc biệt năm mới Quý Tỵ 2013 đánh dấu 480 năm sự kiện giáo sĩ Inêkhu đến Việt Nam truyền giáo: Quý Tỵ 1533 – Quý Tỵ 2013.Thế kỷ XVI1533 – Quý TỵTin Mừng bắt đầu được rao giảng tại Việt Nam:
Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục: năm 1533, giáo sĩ Inêkhu đến Việt Nam, truyền giáo tại các làng thuộc tỉnh Nam Định: Ninh Cường, Quần Anh và Trà Lũ.Thế kỷ XVII1617 – Đinh Tỵ
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ra sắc chỉ cấm đạo.1629 – Kỷ Tỵ
– Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) thành lập Nhà Đức Chúa Trời (Hội Kẻ giảng).
– Chúa Trịnh Tráng ra sắc chỉ cấm đạo.1665 – Ất Tỵ
Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần ra sắc chỉ cấm đạo.Thế kỷ XVIII1701 – Tân Tỵ
Dòng Anh Em Thánh Augustinô (Augustiniani Scalzi) vào Việt Nam, bắt đầu truyền giáo tại miền Bắc trong 64 năm (năm 1765 ngưng hoạt động).1725 – Ất Tỵ
Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ra sắc chỉ cấm đạo.1737 – Đinh Tỵ
Đức cha Valerian Rist, dòng Phan Sinh, phó Giám quản tông tòa giáo phận Đàng Trong, hiệu tòa Myndus, tấn phong ngày 28-04-1737, qua đời ngày 15-09-1737.1761 – Tân Tỵ
Thánh Vincentê Nguyễn Thế Ðiểm, linh mục, chào đời tại An Do, Quảng Trị.1773 – Quý Tỵ
– Thánh Phêrô Lê Tùy, linh mục, chào đời tại Bằng Sở, Hà Ðông.
– Chúa Trịnh Sâm ra sắc chỉ cấm đạo.
– Thánh Henricô Gia (Henricus Castaneda), linh mục dòng Đa Minh, tử đạo ngày 7-11 tại Đồng Mơ.
– Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm, linh mục dòng Đa Minh, tử đạo ngày 7-11 tại Đồng Mơ.1785 – Ất Tỵ
Hoàng đế Thái Ðức (Nguyễn Nhạc, nhà Tây Sơn) ra sắc chỉ cấm đạo.1797 – Đinh Tỵ
Thánh Phanxicô Ðỗ Văn Chiểu, thày giảng, chào đời tại Trung Lễ, Liên Thủy, Nam Ðịnh.Thế kỷ XIX1809 – Kỷ Tỵ
Thánh Gioan Tân (Jean Charles Cornay), linh mục Hội Thừa sai Paris, chào đời tại Loudun, Poitiers, Pháp.1821 – Tân Tỵ
– Thánh Melchor Xuyên (Garcia Sampedro), giám mục, dòng Đa Minh, chào đời tại Cortes Asturias, Tây Ban Nha.
– Thánh Giuse Tuân, linh mục, dòng Đa Minh, chào đời tại Trần Xá, Hưng Yên.1833 – Quý Tỵ
– Vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo.
– Dòng Phanxicô ngưng hoạt động tại Việt Nam, sau khi tu sĩ cuối cùng là linh mục Odoric de Collodi (cố Phương), cha sở Cái Nhum (Chợ Lách, Bến Tre), bị bắt (1833), bị đày lên Lao Bảo và chết rũ tù ngày 23-05-1834.
– Thánh Phanxicô Kính (Francois Isidore Gagelin), linh mục, Hội Thừa sai Paris, tử đạo ngày 17-10, tại Bãi Dâu, Huế.1857 – Đinh TỵThánh Phaolô Lê Bảo Tịnh - chịu chết vì đạo ngày 6-04-1857 (Đinh Tỵ) – Vua Tự Đức ban hành sắc lệnh cấm đạo.
– Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, linh mục, bị xử trảm ngày 6-04, tại Bảy Mẫu, Nam Định.
– Thánh Micae Hồ Ðình Hy, giáo dân, quan Thái bộc, bị xử trảm ngày 22-05, tại An Hòa, Huế.
– Thánh Phêrô Ðoàn Văn Vân, thầy giảng, bị xử trảm ngày 25-05, tại Sơn Tây.
– Thánh Giuse An (Maria Diaz Sanjurjo), giám mục, dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử trảm ngày 20-07 tại Nam Ðịnh.Thế kỷ XX1953 – Quý Tỵ
– Ngày 19-03: lễ tấn phong giám mục Đức cha Giuse Trương Cao Đại, Giám quản tông tòa giáo phận Hải Phòng.
– Thư chung của HĐGM Đông Dương về “Phân biệt phạm vi Công giáo và phạm vi chính trị”.1965 – Ất Tỵ
– Ngày 22-03: Đức giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm Đức cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang làm giám mục giáo phận Cần Thơ (tấn phong ngày 5-05).
– Ngày 14-10, Đức giáo hoàng Phaolô VI thiết lập hai giáo phận mới tại Việt Nam: Xuân Lộc và Phú Cường, đồng thời bổ nhiệm hai giám mục tiên khởi: Đức cha Giuse Lê Văn Ấn (Xuân Lộc, tấn phong giám mục ngày 9-01-1966), Đức cha Giuse Phạm Văn Thiên (Phú Cường, tấn phong giám mục ngày 6-01-1966).
– Ngày 7-12: Lễ bế mạc Công đồng Vatican II
Các Nghị phụ Việt Nam gồm: Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình (Sài Gòn), Đức TGM Phêrô Ngô Đình Thục (Huế), ĐGM Philipphê Nguyễn Kim Điền (Cần Thơ), ĐGM Micae Nguyễn Khắc Ngữ (Long Xuyên), ĐGM Giuse Trần Văn Thiện (Mỹ Tho), ĐGM Đa Minh Hoàng Văn Đoàn (Quy Nhơn), ĐGM Phêrô Phạm Ngọc Chi (Đà Nẵng), ĐGM Paul Seitz (Kon Tum), ĐGM Marcel Piquet (Nha Trang).1977 – Đinh Tỵ– Ngày 24-04: lễ tấn phong Đức cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến, giám mục phó giáo phận Phát Diệm.
– Ngày 2-05: Các giám mục Giáo tỉnh Sài Gòn họp tại Trung tâm Công giáo.
– Ngày 10-09: ĐHY Giuse Maria Trịnh Như Khuê và Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình sang Roma tham dự Thượng Hội đồng Giám mục về Dạy Giáo lý trong thời đại ngày nay.1989 – Kỷ Tỵ– Ngày 24-02: Ðức cha Giuse Trần Văn Thiện, giám mục Mỹ Tho, từ trần.
– Ngày 14-03: Ðức cha Giuse Ðinh Bỉnh, Giám mục Thái Bình, từ trần.
– Ngày 27-03: Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, TGM phó Sài Gòn, sang Rôma (sau khi được trả tự do năm 1988).
– Từ ngày 1 đến 17-07: ĐHY Roger Etchegaray, đại diện Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II thăm Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, kể từ năm 1975, một viên chức cao cấp của Toà Thánh đến thăm Giáo hội tại Việt Nam.
– Từ ngày 6 đến 14-12: Hội đồng Giám mục Việt Nam họp tại Hà Nội; Hội đồng bầu Ban Thường vụ mới. Đức cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật (Xuân Lộc) được bầu làm Chủ tịch HĐGM.Thế kỷ XXI2001 – Tân Tỵ
– Ngày 21-02: Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II nâng Đức TGM Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, lên hàng Hồng y.
– Từ ngày 10 đến 12-6: Tại Hà Nội, ban Thường vụ HĐGMVN họp và làm việc với Phái đoàn Toà Thánh sang công tác tại Việt Nam.
– Ngày 4-07: Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ba tân giám mục: Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm (GM Bùi Chu), Đức cha Giuse Vũ Duy Thống (GM phụ tá TGP Sài Gòn), Đức cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan (GM phó Phan Thiết).
– Từ ngày 16 đến 22-09: Đại hội lần VIII của HĐGMVN tại Hà Nội. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa được bầu làm Chủ tịch HĐGMVN.
– Từ ngày 30-09 đến 27-10: Hai giám mục Việt Nam tham dự Thượng HĐGM Thế giới tại Roma về Sứ vụ Giám mục: Đức TGM GB Phạm Minh Mẫn (Sài Gòn) và ĐGM Phêrô Nguyễn Soạn (Qui Nhơn).
– 29-12: Hội nghị bất thường của HĐGMVN, gồm Ban Thường vụ và các Chủ tịch Uỷ ban Giám mục.
(Nguồn: WHĐ) -
RỬA CHÂNRửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ). Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ. Việt Nam không “lệ” rửa chân, nhưng tôi tớ lại phải khom lưng hoặc nằm xuống cho chủ bước qua.
Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ. Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” (Ga 13,16a; Ga 15,20) và “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13,16b). Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo Hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ”.
Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa. Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay”. Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.
RỬA CHÂN LÀ YÊU THƯƠNG
Trong Phúc Âm, Thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian. Đây là điểm khác so với các Phúc Âm nhất lãm. Rửa chân người khác là hành động yêu thương. Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc Âm của Thánh Gioan - là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 13,23; Ga 19,26; Ga 13,23; Ga 20,2; Ga 21,7.20), và vì thế mà Thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu. Người rửa chân là “người thực hành yêu thương”, còn người được rửa chân là “người được yêu thương” - và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.
Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8). Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận. Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4,12). Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu. Quá ngược đời, và lạ thật! Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.
RỬA CHÂN LÀ KHIÊM NHƯỜNG
Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường. Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức. Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy. Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng. Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.
Có vẻ lạ khi 3 tác giả Phúc Âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài. Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại. Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước. Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.
Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân. Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc và thật là dễ thương!
RỬA CHÂN LÀ PHỤC VỤ
Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20,26). Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).
Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13,1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ. Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng - như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều”. Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực”.
Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình. Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ. Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-16).
Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22,24-27).
Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ - tức là chúng ta - và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau. Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.
Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác - đặc biệt là những người nghèo khổ. Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và Tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13,6-10: “Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Vừa sợ không được chung phần vừa khoái chí, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch”. Và Ngài “láy” một câu quan trọng: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”.
RỬA CHÂN LÀ THA THỨ
Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ. Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác. Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ. Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Thánh vương Đavít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51,4).
Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt. Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18,21). Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5,44; Lc 6,27). Khó quá, nhưng không được phép không làm!
Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần. Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “ngon” lắm rồi, ai dè… “bị hố”!
Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18,23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!
Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
TẠM KẾT
Cuối cùng, chúng ta phải ghi nhớ lời Chúa Giêsu nói về việc rửa chân: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13,17). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc thực hành chứ không bảo chúng ta nghe biết cho vui tai.
Ngài chú ý cách thực hành tích cực, và chúng ta chắc chắn sẽ hạnh phúc nếu chúng ta thực hành điều Ngài đã làm. Ngài biết rằng sự đố kỵ, ghen ghét, bực tức và thiếu lòng tha thứ làm chúng ta bị hạn chế và ngăn cản sự phát triển tâm linh của chúng ta. Nếu chúng ta cho phép những điều đó xảy ra, cuối cùng chúng sẽ huỷ diệt chúng ta.
Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm, chúng ta sẽ cố gắng khiêm nhường và cảm nghiệm niềm hạnh phúc khi noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu trong việc phục vụ nhau bằng cách tha thứ lẫn nhau.
Vậy thì chúng ta đích thực là môn đệ của Chúa Giêsu, như Ngài đã tâm sự: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,15). Là thân phận tôi tớ, thậm chí chỉ đáng làm nô lệ, thế nhưng chúng ta lại được Chúa Giêsu gọi là bạn hữu và là môn đệ. Còn hạnh phúc nào hơn?!
Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch. Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.Mùa Chay – 2012Trầm Thiên Thu -
Lịch sử và ý nghĩa Mùa ChayNgày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta nghe văng vẳng lời thánh ca từ Sách Sáng Thế: Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro. Lời Kinh Thánh này nhắc nhở chúng ta ý thức về thân phận con người qua biểu hiệu “bụi tro” được dùng trong Kinh Thánh và trong nghi lễ ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay. Trong bài viết này tôi sẽ nói qua về lịch sử và ý nghĩa thần học phụng vụ của Ngày Thứ Tư Lễ Tro.Thứ Tư Lễ Tro: Đức Giáo Hoàng nhận Tro tại Vương cung thánh đường Santa Sabina Rome
1. Lịch sử Thứ Tư Lễ Tro
Những Quy luật Tổng quát của Năm Phụng vụ nói về ngày Thứ Tư Lễ Tro như sau: “Mùa Chay bắt đầu từ Thư Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước Thánh lễ Tiệc Ly. Ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay có xức tro; ngày đó khắp nơi ăn chay” (số 28 và 29). Lời chỉ dẫn này cho chúng ta biết ý nghĩa của Ngày Thứ Tư Lễ Tro trong Năm Phụng vụ, cũng như trong suốt Mùa Chay thánh. Với Thứ Tư Lễ Tro, Giáo Hội bắt đầu Mùa Chay. Ngoài ra trong cơ cấu phụng vụ của ngày này, Giáo Hội cử hành lễ nghi làm phép tro và xức tro.
Trong truyền thống phụng vụ từ thế kỷ thứ 7, ngày Thứ Tư Lễ Tro là một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thề vượt lên trên. Người ta cũng gọi ngày này là “Ðầu Mùa Chay” (Caput ieiunii), hay “Ðầu Mùa ăn chay 40 ngày” (Caput Quadragesimalis). Việc ăn chay trong Mùa này đã có từ thời Ðức Giáo hoàng Gregoriô Cả (590-604).
Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian lễ nghi này đã có sự biến đổi từ một nghi thức nghi thức thống hối trong định chế về tập tục thống hối công cộng thời xưa. Lịch sử phụng vụ về việc thành hình Nghi thức cử hành Bí tích Thống Hối và Hoà Giải, cũng như định chế Giáo Hội về một số sinh hoạt đặc biệt, đã có tục lệ bỏ tro cho hối nhân công cộng đã phạm một số tội nặng cách công khai, mà mọi nguời đều biết, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại tình... Những người này bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Ðể được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng theo định chế Giáo Hội đưa ra. Vào ngày thứ tư trước Chúa Nhật I Mùa Chay, những hối nhân công cộng này sẽ tụ tập lại tại nhà thờ chính toà, và sau khi xưng thú tội của mình, họ sẽ được Ðức Giám mục trao cho chiếc áo nhậm mang trên mình, rồi lãnh nhận tro trên đầu và trên mình. Sau đó họ bị đưổi ra khỏi nhà thờ và được chỉ định đi tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đã ra cho họ. Vào sáng Thứ Năm Tuần Thánh, các hối nhân này tụ tập lại tại nhà thờ chính toà, được Ðức Giám mục xem xét việc thực hành thống hối của họ trong Mùa Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hoà với cộng đoàn. Từ đây họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích. Tại Rôma, vào thế kỷ thứ 7, các hối nhân công cộng tập họp tại một số nhà thờ tước hiệu (tituli) của thành phố, cũng như tại 4 Ðại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, Thánh Phaolô ngoại thành, Thánh Gioan Lateranô và Ðức Bà Cả, để cử hành nghi lễ như vừa nói trên đây.
Về sau định chế thống hối công cộng không còn nữa, tuy nhiên lễ nghi bỏ tro vẫn còn giữ lại trong ngày Thứ Tư Lễ Tro. Ðầu tiên chỉ có các tín hữu lãnh nhận tro trên mình. Về sau các Ðức Giáo hoàng và tín hữu đều lãnh tro, để tỏ lòng thống hối. Sang thế kỷ thứ 10, thì có việc làm phép tro và một lời nguyện kèm theo bắt chước cơ cấu thánh lễ, nghĩa là có lời nguyện giống như Kinh nguyện Thánh Thể, và việc lãnh nhận tro như khi cử hành việc rước lễ.
Vào thế kỷ thứ 11, cũng tại Rôma, Ðức Giáo hoàng tập họp các giáo sĩ, giáo dân tại Nhà thờ Thánh Anastasia. Ngài làm phép tro, bỏ tro cho mọi người, sau đó tất cả đi kiệu về Nhà thờ Thánh nữ Sabina ở đồi Aventino. Trong khi đi kiệu, Ðức Giáo hoàng và cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Tất cả đều mặc áo nhặm, đi chân không, để tỏ lòng thống hối ăn năn. Khi đoàn kiệu đến Nhà thờ Thánh Sabina, Ðức Giáo hoàng đọc lời xá giải và cộng đoàn cùng hát bài “Chúng ta hãy thay đổi đời sống, xức tro và ăn chay hãm mình, khóc than vì lỗi lầm đã phạm. Hãy khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta. Vì Người rất từ bi nhân hậu sẵng sàng tha thứ mọi tội khiên” (Immutemur, x. Ge 2,13). Sau đó ngài cử hành thánh lễ. Ðó là trạm đầu tiên (statio) của Mùa Chay. Ngày nay vào Thứ Tư Lễ Tro, Ðức Giáo hoàng cũng đến làm phép tro và bỏ tro tại Nhà thờ Thánh nữ Sabina theo truyền thống xưa. Trước đó có cuộc rước kiệu từ Nhà thờ Thánh Anselmô cũng trên dồi Aventino. Tại Nhà thờ Thánh nữ Sabina, ngài công bố sứ điệp Mùa Chay cho toàn thể Giáo Hội (Sứ điệp Mùa Chay năm 2002 “Anh em đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho đi nhưng không” [Mt 10,8]).
Vào năm 1091, Công đồng Benevento (Nam Italia) đã truyền cử hành nghi lễ bỏ tro cho tất cả các nơi trong Giáo Hội. Trong khi bỏ tro, vị linh mục đọc lời: “Ta là thân cát bụi sẽ trỏ về cát bụi” (St 3,19). Tro này lấy từ những cành lá đã được làm phép trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá năm trước để lại. Trước công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng Chung Vatican II, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro được cử hành trước thánh lễ. Vào năm 1970, khi công bố Sách Lễ Rôma được tu chính, thì lễ nghi này được cử hành sau phần Phụng vụ Lời Chúa. Ngoài câu trích từ Sách Sáng Thế, còn có thêm một công thức dùng khi bỏ tro, lấy từ Phúc Âm: “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng” (Mc 1,15). Với công thức mới này được thêm vào, thì biểu hiệu “tro” đã mang thêm một ý nghĩa mới nữa đó là việc canh tân đời sống trong suốt Mùa Chay thánh. Sau đây là một trong hai lời nguyện làm phép tro: “Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết ăn năn. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện và rộng tay giáng phúc cho hết thảy chúng con sắp nhận lấy tro này, để chúng con kiên trì giữ 40 ngày chay thánh, và nhờ đó được nên tinh tuyền, xứng đáng cử hành Mầu nhiệm Vượt qua của Ðức Kitô, Con Một Chúa, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời” (còn có một lời kinh khác trong Sách Lễ Rôma).
2. Ý nghĩa việc bỏ tro và ngày Thứ Tư Lễ Tro
Trong Cựu Ước, việc xức tro và mặc áo nhặm được dùng để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là bụi tro, sẽ phải chết (x. St 3,18.27; Giob 34,17; Gr 6,26; 25,34; Est 4,13; Is 58,5; Dn 9,3; Giona 3,6; Giudith 4,16; 9,1).
Trong truyền thống các đan sĩ và tụ viện, tro được dùng để nói lên mối liên hệ với sự chết và sự khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa. Vì thế, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với chiếc áo nhặm để chết. Thánh Martino thành Tours bên Pháp đã nói: “Không gì xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro bụi”. Các vị này lấy tro đã được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ hình thánh giá trên đất, trên đó còn trải thêm áo nhặm và rồi các vị nằm trên đó khi hấp hối và khi chết. Các tu sĩ cũng có thói quen trộn tro vào bánh như của ăn. Ðó là một hình thức hãm mình nhiệm nhặt mà các tu sĩ phải giữ.
Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo Hội đã đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị mất do tội nguyên tổ, và hậu quả là con người xa Thiên Chúa, trốn tránh Thiên Chúa. Con người sẽ phải chết như là một hậu quả của tội lỗi. Vì thế, cần phải “quay trở lại” một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ “canh tân” trong ngôn ngữ Do Thái, là quay ngược lại với 360 độ. Ðàng khác, suy tư về bụi tro để cho thấy sự yếu hèn của mình và tính cách tuỳ thuộc vào Thiên Chúa vì con người được Ngài tạo dựng. Nhưng Thiên Chúa đoái thương và ban ơn cứu rỗi. Phụng vụ đã diễn tả nền tảng này qua các biểu hiệu và các lời kinh của ngày Thư Tư Lễ Tro.
Cùng với một số biểu hiệu khác được Giáo Hội dùng trong Mùa Chay, như màu áo lễ tím, không đọc Kinh Vinh Danh, không trưng bông hoa trên bàn thờ, không dùng đàn trong thánh lễ, bụi tro cũng được dùng để cho thấy tính cách thống hối của Mùa Chay và thân phận của con người hay chết.
Nói tóm lại, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro gợi ra cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Ðồng thời, lễ nghi khởi đầu này cũng đề ra cho tín hữu một hành trình phải đi theo trong thời gian suốt Mùa Chay.
Hành trình đó là thực hành các việc làm biểu lộ sự thống hối, sống bác ái; đàng khác, tín hữu cũng phải đi sâu vào tâm tình thống hối, khi suy tư về thân phận con người, về lỗi lầm của mình và nhu cầu khẩn thiết phải trở về, phải canh tân cuộc sống. Tuy nhiên, tín hữu không làm những việc này trong ý thức khổ hạnh cá nhân, nhưng là để hướng về ơn cứu rỗi Chúa Kitô đã thực hiện và Giáo Hội đang chuẩn bị mừng trong Đại lễ Phục Sinh. Ngày nay các biểu hiệu bên ngoài, như thống hối công cộng, như mặc áo nhặm, như đi chân không trong cuộc hành hương... không còn được thực hiện như xưa, vì hoàn cảnh xã hội đổi thay, nhưng thái độ và ý chí thống hối, canh tân trở về vẫn phải in khắc sâu đậm trong thâm tâm mỗi người. Mỗi người sẽ tự đưa ra cho mình một số những thực hành thống hối trong cuộc sống cụ thể để biểu lộ ý nghĩa và tinh thần của lễ nghi xức tro.Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Vincente Nguyễn Viết Thương -
Một ngày sống của ĐGH Bênêđictô XVI(Vatican, 24-2-2012, CNA/EWTN News) - Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, dù đã 84 tuổi, không bao giờ đi ngủ trước 11:00 đêm. Ngài lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày, thức dậy lúc 5g00 sáng và chỉ sử dụng chiếc điện thoại di động mà chỉ các cố vấn thân cận nhất của ngài mới có thể gọi đến.Trong một bài viết đăng trên trang mạng Europaquotidiano.it hôm 17-2, nhà báo người Ý Aldo Maria Valli đã viết về một ngày sống của Đức Giáo Hoàng. Ngài thức dậy khi Thành phố Vatican “vẫn còn chìm trong im lặng”. Valli nói rằng vị Giáo hoàng gốc Bavarian là một “người Đức điển hình, một con người mẫu mực”, người “thích tổ chức một ngày sinh hoạt của mình thật chi tiết, theo một lịch trình rất chính xác”.Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bắt đầu một ngày của ngài với việc cử hành Thánh lễ bằng tiếng Ý tại nhà nguyện của Đức Giáo hoàng lúc 7:00 giờ sáng, cùng với 2 thư ký riêng của ngài, Cha Georg Ganswein và Cha Alfred Xuereb.Các thành viên khác trong căn hộ giáo hoàng cũng tham dự Thánh lễ, bao gồm những người phụ giúp Đức Giáo Hoàng là các nữ tu Carmela, Loredana, Cristina và Rosella, thuộc cộng đoàn Memores Domini của Phong trào Hiệp thông và Giải phóng, và Paolo Gabriele, người dọn phòng riêng của ngài, 46 tuổi, đã có gia đình và có 3 đứa con.Sau Thánh lễ, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI dùng điểm tâm sáng lúc 8:00 và sau đó về phòng nghiên cứu của ngài, nơi ngài làm việc mãi cho đến 11:00 trưa. Phòng làm việc của ngài luôn luôn có một tượng Chúa chịu nạn, 2 máy điện thoại, một chiếc là điện thoại di động mà chỉ có những cộng tác viên thân tín nhất mới biết số để gọi cho ngài.Valli nói rằng Đức Giáo Hoàng thích được biết các thông tin về các sự kiện đang xảy ra trên toàn thế giới và đọc các tin tức bằng các ngôn ngữ khác nhau, bao gồm tiếng Đức, Ý, Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Ngài cũng dành một ít thời gian để trả lời thư từ quan trọng.Sau khi hoàn tất công việc buổi sáng, Đức Giáo Hoàng gặp gỡ các vị nguyên thủ quốc gia, các vị đại sứ và các vị đại diện khác trên tầng hai của Dinh Tông Toà.Các cuộc gặp gỡ thường diễn ra tại Thư viện Giáo hoàng, tuỳ thuộc vào số lượng khách yết kiến và mức độ trang trọng của công việc. Các cuộc viếng thăm thường kéo dài khoảng 2 giờ. Vào ngày thứ tư hằng tuần, các cuộc viếng thăm phải ngưng để dành cho cuộc tiếp kiến chung của Đức Giáo Hoàng, diễn ra tại Đại Thính đường Phaolô VI hoặc Quảng trường Thánh Phêrô.Vào lúc 1:30 trưa, Đức Thánh Cha dùng bữa với 2 vị thư ký của ngài. Hiếm khi nào có một vị khách dùng chung bữa trưa, và thực đơn thường là các món ăn miền Địa Trung Hải. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI không bao giờ uống rượu vang mà luôn luôn là nước cam vắt - Valli nói. Sau khi ăn trưa, Đức Thánh Cha rất thích làm một cuộc tản bộ ngắn, thường không quá 10 phút, cùng với các thư ký của ngài xung quanh các hành lang của Dinh Tông Toà, “được trang trí với các cây chanh và cam và từ nơi đó có thể nhìn thấy được một khung cảnh tuyệt vời của Thành phố Rôma”. Trong những lúc tản bộ thường không nói về công việc.Đức Giáo Hoàng nghỉ trưa 1 giờ và vào lúc 3:30 chiều, ngài trở về phòng nghiên cứu của ngài. Ngài dành phần còn lại của buổi chiều để viết các văn kiện, các bài diễn văn và soạn bài giảng. Ngài không sử dụng máy tính nhưng viết tất cả mọi thứ bằng tay, và sau đó văn bản của ngài được sao chép lại và phiên dịch.Valli nói Đức Giáo Hoàng là một người viết “cực kỳ cẩn thận”, ngài thích “rút lui vào phòng nghiên cứu để viết trong sự yên tĩnh, tự mình tìm kiếm các nguồn tài liệu bằng cách tra cứu thư viện cá nhân đồ sộ của ngài”.Vào lúc 5:30 chiều, ngài ký vào các văn kiện được các thư ký của ngài chuẩn bị sẵn và sau đó gặp gỡ một số cộng tác viên thân cận nhất của ngài, chẳng hạn như ĐHY Quốc vụ khanh Toà Thánh Tarcisio Bertone, Đức Tổng Giám mục Dominique Mamberti, Trưởng Bộ phận Quan hệ với các Quốc gia, và những vị khác.Sau đó, Đức Giáo Hoàng xuống tầng dưới để thực hiện một cuộc tản bộ khác, lần này ở trong Vườn Vatican. Ngài thường được một hoặc cả hai vị thư ký của ngài tháp tùng và họ đọc kinh Mân Côi trước bức tượng Đức Mẹ Lộ Đức.Một bữa ăn tối nhẹ thường được phục vụ lúc 7:30 tối. Vào lúc 8:00 tối, Đức Giáo Hoàng trở về phòng nghiên cứu của ngài và sau đó vào nhà nguyện để cầu nguyện đêm. Ngài không bao giờ đi ngủ trước 11:00 tối - Valli viết. “Nếu bạn muốn chứng thực, bạn chỉ cần đi bộ qua Quảng trường Thánh Phêrô khoảng thời gian đó và xem thử lúc nào ánh sáng nơi cửa sổ tầng cao nhất của Dinh Tông Toà được tắt”.Đó là khi cả thành phố Vatican đã chìm vào giấc ngủ, ngoại trừ các vệ binh và một vài kỹ sư - Valli nói.Tomorrow Page
Vincente Nguyễn Viết Thương -
MÙA CHAYNGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨAJean Luc MullerÉglise en fêtes, Téqui, 1990Là thời gian hướng về ngày lễ Phục Sinh bắt đầu với Thứ Tư Lễ Tro, một thời gian thiêng liêng phong phú cho các cộng đoàn Kitô giáo, Mùa Chay với hình thức như hiện nay là kết quả của quá trình tiến triển lâu dài về lịch sử cũng như phụng vụ, xét về độ dài thời gian cũng như sự nghiêm ngặt của các quy định.Nguồn gốcNói thật ra, Mùa Chay là một thiết chế của Giáo Hội không bắt nguồn từ thời Giáo Hội sơ khai. Đối với các Kitô hữu thời các Tông đồ, mỗi ngày Chúa Nhật là một cử hành biến cố Phục Sinh, và mãi cho đến thế kỷ thứ II mới thấy xuất hiện một ngày lễ đặc biệt dành để tưởng niệm cái chết và phục sinh của Đức Kitô để rồi sau đó biến thành Tam Nhật Phục Sinh (Triduum pascal): Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Vọng Phục Sinh.Biến cố này được chuẩn bị bằng một hay nhiều ngày ăn chay tuỳ theo miền, thường là từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh cho đến sáng ngày lễ Phục Sinh, hoặc ít ra là trong vòng 40 giờ từ lúc Chúa chịu chết cho đến thời điểm phục sinh. Đến giữa thế kỷ thứ III, ở Alexandrie việc giữ chay kéo dài suốt Tuần Thánh, và đến cuối thế kỷ III thì tại Ai Cập cũng đã xuất hiện việc giữ chay kéo dài đến 40 ngày mà mục đích trước hết dường như là sống lại thời gian chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc cũng như chuẩn bị cho lễ Phục Sinh.40 ngàyChẳng bao lâu sau, Mùa Chay 40 ngày của người Ai Cập đã định hình như là thời gian chuẩn bị cho Cái Chết và Phục Sinh của Đức Kitô và lan rộng ra khắp Giáo Hội. Vào tiền bán thế kỷ IV, ở Roma đã hình thành một thời gian chay tịnh trong 3 tuần trước khi cử hành biến cố Phục Sinh và vào khoảng giữa những năm 354 đến 384, họ cũng đã thêm vào 3 tuần nữa. Như vậy chính xác có 40 ngày (quadragesima) giữa Chúa Nhật mở đầu Mùa Chay cho đến khi bắt đầu Tam Nhật Thánh (Triduum).Nhưng vì không ăn chay vào các ngày Chúa Nhật nên thực tế chỉ có 34 ngày ăn chay trong thời gian này. Cộng thêm ngày Thứ Năm và Thứ Sáu Tuần Thánh thì cũng chỉ có 36 ngày. Và cũng vì muốn chuẩn bị cho biến cố Phục Sinh bằng cách rập khuôn chính xác 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc nên vào thế kỷ VII người ta thêm vào 4 ngày còn thiếu, và từ khi ấy người ta bắt đầu Mùa Chay với Thứ Tư trước Chúa Nhật I Mùa Chay mà sau này trở thành Thứ Tư Lễ Tro. Vào ngày này, các tín hữu ở Roma tụ họp nhau tại Nhà thờ Thánh Anastasie dưới chân đồi Palatin là nơi Đức Giáo Hoàng công bố mở đầu Mùa Chay; rồi mọi người đi thành đoàn rước đến Nhà thờ Thánh Sabine trên đồi Aventin để cử hành thánh lễ.Thứ Tư Lễ TroViệc xức tro có nguồn gốc từ thực hành thống hối công khai, một nghi thức bắt buộc dành cho các tín hữu phạm lỗi nặng hoặc làm gương xấu trước khi họ được chính thức tái hoà nhập cộng đoàn vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, họ được xá tội và được phép rước lễ trở lại vì trước đó họ bị cấm.Một trong những thực hành thống hối công khai này là xức tro trên đầu. Cử chỉ này thịnh hành ở Roma từ thế kỷ IV và dần dần lan ra các xứ Kitô giáo, rồi nhiều tín hữu tự nguyện xức tro trên đầu để biểu lộ ý muốn thống hối. Chính các Đức Giáo Hoàng cũng đã chấp nhận nghi thức này và vào thế kỷ XI thì các ngài đã kết hợp việc thống hối này với việc bắt đầu Mùa Chay, do đó mà có tên gọi Thứ Tư Lễ Tro và thực hành xức tro.Là bụi đất, hình ảnh của tội lỗi và sự mong manh của con người, là những gì còn lại của thân xác sau khi ngọn lửa sự sống vụt tắt đi (x. St 3,19; 18,27), tro rắc trên đầu mà ngày nay người ta xức trên trán biểu lộ sự thống hối và tang chế (x. Is 58,5; 61,3; Gr 6,26). Chính vì thống hối dưới bụi tro và áo mặc áo vải thô mà dân thành Ninivê nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa (x. Gn 3).Linh đạo Mùa ChayLà thời gian hoán cải dành cho hối nhân, trong những thế kỷ đầu tiên, Mùa Chay cũng là thời gian chuẩn bị cho các dự tòng chịu phép rửa để được gia nhập cộng đoàn Kitô giáo vào đêm Phục Sinh, sau khi giữ chay và tiết chế trong suốt thời gian này cũng như miệt mài cầu nguyện.Như thế, khi khuyên nhủ các tội nhân công khai hối cải, Giáo Hội cũng khích lệ toàn thể cộng đoàn thống hối, và khi nhắn gởi với các dự tòng, Giáo Hội cũng chuẩn bị cho mọi tín hữu sống lại ân sủng phép rửa của chính mìnhKhi chuẩn bị cho mọi người gặp gỡ Thiên Chúa, đối với các tín hữu, Mùa Chay đã trở thành một hành trình tiến về Thiên Chúa, một con đường vòng băng qua hoang mạc, một cuộc chiến đấu với những cám dỗ trong đời sống. Giáo Hội đề nghị chúng ta sống trọn vẹn cuộc sống Kitô hữu của chúng ta một cách nồng nhiệt hơn trong suốt mấy tuần hướng về ngày lễ Phục Sinh.Như đoàn dân của Môisen lang thang nhiều năm dài trước khi vào Đất Hứa, chúng ta cũng khám phá ra rằng hành trình tiến về Thiên Chúa, con đường tiến về Nước Trời của chúng ta không phải là không gặp khó khăn, chướng ngại, thụt lùi, đôi khi có phản kháng nữa; thế nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện để mang lại cho ta hy vọng và niềm tin. Khi kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn trung thành với Chúa Cha trong thử thách cuối cùng, chúng ta sống kinh nghiệm cuộc vượt qua tiến về Chúa Cha qua sự sống và cái chết, chúng ta dần tiến về mầu nhiệm của Đức Kitô để hiệp thông vào đó một cách sâu xa hết sức có thể.Làm thế nào để diễn dịch cách cụ thể cuộc hành huơng tiến về với Thiên Chúa mà mỗi Kitô hữu được mời gọi trong suốt thời gian Mùa Chay này? Đã có câu trả lời được lặp đi lặp lại qua các bản văn phụng vụ ngày Chúa Nhật (và những ngày khác) trong thời gian chuẩn bị cho biến cố Phục Sinh: các bài đọc Tin Mừng cũng như Kinh Tiền Tụng đã dành ưu tiên cho bộ ba này: cầu nguyện, ăn chay và chia sẻ.1.Cầu nguyệnLà khoảng không ngút mắt nơi không có sự sống, hoang mạc mà dân của Giao Ước cũ và chính Đức Kitô đã đi qua đưa chúng ta đến yếu tính của đời sống, dẫn chúng ta gặp gỡ với Hữu Thể độc nhất, cội nguồn cho hiện hữu của chúng ta: Thiên Chúa. Là nơi chốn gợi lên sự vô cùng của Thiên Chúa, chính trong hoang mạc mà Charles de Foucauld đã tận hiến hoàn toàn cho Ngài qua lời cầu nguyện. Như thế, hoang mạc và Mùa Chay là nơi chốn và thời gian để gặp gỡ Chúa trong lời cầu nguyện.Qua lời cầu nguyện, đời sống chúng ta hướng về Thiên Chúa, chúng ta để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn mình theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá để trở nên sẵn sàng cho Đức Kitô và cho anh em. Cầu nguyện là “lương thực hằng ngày” nuôi sống chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa, không có nó tâm hồn chúng ta có nguy cơ xa rời ý muốn của Chúa Cha.Theo gương các dự tòng vào những thế kỷ đầu tiên đã toàn tâm toàn ý cầu nguyện cách quảng đại và thực tâm, theo gương Đức Kitô lui vào trong cô tịch của hoang mạc Giuđa, chúng ta hãy biến Mùa Chay thành một thời gian gặp gỡ Chúa, chiêm niệm và tạ ơn, ngợi ca Danh Thánh Chúa và biến đổi tâm hồn.2. Ăn chayLà nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đối với dân Israel cũng như đối với Đức Kitô, hoang mạc đồng thời cũng là thời gian thử thách, là trận chiến chống lại thế lực sự dữ để không nhường bước trước thú vui, điều choáng ngợp và quyền lực, ba thần tượng mà con người thường hy sinh tất cả để đạt cho được. Những cám dỗ này không ngừng quấy nhiễu chúng ta và là nguồn gốc nhiều sự dữ, ngay từ khi xuất hiện Mùa Chay, việc từ bỏ những cơn cám dỗ này được diễn dịch bằng việc ăn chay, một thực hành rất đòi hỏi nhưng lại đạt được nhiều kết quả thiêng liêng. Khi giảm thiểu những nhu cầu sống để chỉ giữ lại những gì thiết yếu, việc ăn chay giúp chúng ta trở nên những người nghèo khó trong tâm hồn (xem Các Mối Phúc), nghĩa là thành những con người cần đến Thiên Chúa, nhường cho Ngài một chỗ trong đời sống mình, người nghèo trong Tin Mừng là những người đặt hết niềm hy vọng vào Chúa, háo hức gặp gỡ với Đức Kitô. Như vậy sự khổ hạnh và từ bỏ mọi sự rất cần thiết để Thánh Thần Thiên Chúa xâm chiếm lấy con người mình.Nếu chay tịnh trước hết có nghĩa là từ bỏ của ăn thì trong ý nghĩa tận căn hơn nữa ăn chay cũng có nghĩa là từ bỏ tính ích kỷ, tính cứng đầu và lòng tham lam của chúng ta: “Đây là những điều bạn phải thực hành khi muốn ăn chay. Trước hết, hãy xa lánh mọi lời nói và ước muốn xấu xa, thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi thứ hư không đời này. Nếu giữ được điều đó, việc ăn chay của bạn sẽ nên hoàn hảo. Sau khi hoàn tất những gì tôi đã viết trên đây, vào ngày ăn chay, bạn không ăn gì ngoại trừ bánh mì và nước lã và rồi hãy tính toán giá lương thực mà bạn thường ăn trong ngày ấy, bạn dành tiền ấy để cho quả phụ, cô nhi hoặc người nghèo… Nếu bạn ăn chay theo như những điều tôi khuyên nhủ trên đây, hy sinh của bạn sẽ được Thiên Chúa chấp nhận” (Le Pasteur d’Hermas).3.Chia sẻNgay từ thế kỷ II, việc ăn chay đã có khuynh hướng chia sẻ như là một phương tiện giúp đỡ những ai đang túng thiếu để chúng ta có thể tiến đến gần Thiên Chúa hơn. Thánh Cyprianô thành Carthage vào thế kỷ III cũng đã để lại những dòng chữ rất thuyết phục về chủ đề này: “Những người giàu có và dư dật… bạn sẽ trở nên vàng ròng khi tinh luyện mình qua các công việc vì đức công bình và làm bố thí… Hãy xem trong Tin Mừng, một bà goá nghèo đã đi vào trong lời dạy của Thiên Chúa khi bà bố thí giữa lúc thất vọng và túng bấn. Bà ném vào trong thùng tiền hai đồng xu cuối cùng. Chúa đã lưu ý và nhấn mạnh về tấm lòng quảng đại của bà và nói: “Bà goá này đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn mọi người khác”… Đức Giêsu Kitô muốn chúng ta hiểu rằng của bố thí của chúng ta sẽ đến với chính Thiên Chúa và rằng những ai bố thí thì đẹp lòng Chúa”.Chia sẻ cũng là tình yêu tha nhân, nhìn nhận người khác như đồng loại của mình, nhận ra Đức Kitô trong những người anh em hèn mọn nhất. Đây là biểu hiện tình yêu Thiên Chúa của chúng ta và không thể được diễn dịch đơn thuần chỉ bằng một phong trào cứu trợ hay phong trào đoàn kết nào đó. Qua sự thiếu thốn và chia sẻ, chúng ta đáp ứng được giới răn kép của tình yêu: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi và yêu tha nhân như chính mình”.Ghi chú:Khi nói về việc ăn chay, mãi cho đến thế kỷ IX, tất nhiên là việc giữ chay nghiêm nhặt hơn ngày nay nhưng không phải là các tín hữu cả ngày không ăn uống gì. Thật ra, người ta phân biệt:- Ăn chay đơn giản, kiêng mọi thứ thịt, cả trứng, phômai, bơ và sữa. Việc ăn chay này kéo dài suốt Mùa Chay, trừ các ngày Chúa Nhật.- Ăn chay nhặt một vài ngày nào đó trong thời gian này, nhất là Thứ Sáu và Thứ Bảy Tuần Thánh. Trong những ngày này người ta chỉ dùng một bữa ăn nhẹ duy nhất trong ngày.Hiện nay, Giáo Hội chỉ buộc kiêng thịt vào các ngày thứ sáu của Mùa Chay, ăn chay cùng với kiêng thịt vào các ngày Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. “Luật kiêng thịt buộc những người đã 14 tuổi trọn. Luật ăn chay buộc hết mọi người đã đến tuổi trưởng thành cho tới lúc bắt đầu 60 tuổi” (Giáo luật điều 1252).Nhưng trọn Mùa Chay vẫn là thời gian thống hối, các ngày Thứ Sáu khác trong năm cũng vậy. Trong những ngày này, “các tín hữu chú trọng đặc biệt đến sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản thân, bằng cách chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt” (Giáo luật điều 1249). Việc giữ chay và kiêng thịt cũng có thể được thay thế bằng các hình thức thống hối khác do Hội đồng Giám mục quy định (Giáo luật điều 1253).Phụng vụSự thống hối của Mùa Chay được biểu lộ ra bên ngoài qua màu lễ phục phụng vụ (màu tím) và không đọc kinh Allêluia và kinh Vinh Danh trong thánh lễ và các giờ kinh. Ngày xưa, việc đánh đàn trong nhà thờ hoàn toàn bị bãi bỏ trong thời gian này, ngày nay người ta hết sức giảm thiểu, chỉ đệm đàn để hát.Một nốt nhạc vui đột nhiên cắt ngang những ngày thống hối này: đó là ngày Chúa Nhật Vui (Laetare), hay Chúa Nhật IV Mùa Chay với lễ phục màu hồng thay cho màu tím. Nguyên thuỷ của ngày này được tìm thấy trong nghi thức trao ban Tín biểu đức tin (kinh Tin Kính) cho các dự tòng vào ngày Thứ Tư sau Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay. Vì thế, niềm vui của Giáo Hội đã được biểu lộ trong phụng vụ ngay từ ngày Chúa Nhật vì mình sắp được thâu nhận những tín hữu mới. Lý do thật sự của ngày Chúa Nhật Vui (Laetare) – mà tên gọi xuất phát từ ca nhập lễ trong ngày này (Laetare Jerusalem – Hãy vui lên hởi Giêrusalem) – sau đó đã bị lãng quên để rồi mang lấy một ý nghĩa khác là “để an ủi cho các tín hữu khỏi bị ngã lòng nản chí vì nỗ lực kéo dài trong Mùa Chay và giúp họ tiếp tục chịu đựng những hạn chế với tâm hồn thanh thản và nhẹ nhàng” (Giáo Hoàng Innôcentê III, 1216).Bài đọc các ngày Chúa Nhật Mùa ChayHướng về ngày lễ Phục Sinh, phụng vụ Lời Chúa trong 5 Chúa Nhật Mùa Chay (Chúa Nhật VI là Lễ Lá và Thương Khó) được diễn dịch bằng cách gợi lại những giai đoạn lớn trong hành trình của nhân loại tiến về ngày Phục Sinh của Đức Kitô:- Những giao ước nguyên thuỷ (Năm A: St 2,7-3, 7; Năm B: St 9,8-15; Năm C: 26,4-10).- Abraham (Năm A: St 12,1-4; Năm B: St 22,1-18; Năm C: St 15,5-18).- Môisen (Năm A: Xh 17,3-7; Năm B: Xh 20,1-17; Năm C: Xh 3,1-15).- Đất Hứa (Năm A: 1 Sm 16,1-3; Năm B: 2 Sb 36,14-23; Năm C: Gs 5,10-12).- Các ngôn sứ (Năm A: Ed 37,12-14; Năm B: Gr 31,31-34; Năm C: Is 43,16-21).Chủ đề của các bài Tin Mừng:- Cơn cám dỗ và sự biến hình của Đức Kitô trong hai Chúa Nhật đầu tiên theo một trong ba Tin Mừng Nhất Lãm.- Giáo lý về bí tích Rửa Tội trong 3 Chúa Nhật còn lại của năm A (Ga 4,5-42; Ga 9,1-41; Ga 11,1-45).- Thập giá, dấu hiệu tôn vinh của Đức Kitô, trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm B (Ga 2,13-25; Ga 3,14-21; Ga 12,20-33).- Lòng thương xót của Chúa kêu mời hối cải trong 3 Chúa Nhật còn lại của Năm C (Lc 13,1-9; Lc 15,1-32, Ga 8,1-11).Cuối cùng là các bài thánh thư được chọn lựa để làm rõ nghĩa cho bài Tin Mừng hay bài trích Cựu Ước.Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữNguồn: Trích “Bản Thông Tin”












